Cập nhật tình hình thương mại – Những bất ổn do dịch COVID-19 vẫn hiện hữu

Giảm dự báo do tác động của dịch COVID-19 kéo dài

Dự báo thận trọng do triển vọng nhu cầu toàn cầu ảm đạm

Chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo kim ngạch thương mại năm 2020 đối với kim ngạch xuất khẩu xuống còn tăng 0,2% và kim ngạch nhập khẩu thành giảm 1,7%. Chúng tôi giả định hoạt động thương mại có thể phục hồi trong quý 3 nhưng ở mức thấp hơn so với dự báo trước đó. Chúng tôi điều chỉnh dựa trên quan điểm thận trọng về sự phục hồi của nhu cầu toàn cầu khi dịch COVID-19 ngày càng lan rộng và lo ngại về một làn sóng thứ hai của dịch. Bên cạnh đó, các sản phẩm được hưởng lợi trong 6 tháng đầu năm do nhu cầu cao hơn trong giai đoạn dịch bệnh bùng phát nhiều khả năng sẽ gặp rủi ro giảm trong nửa cuối năm 2020.

Điều chỉnh dự báo năm 2020

Chúng tôi hiện điều chỉnh dự báo kim ngạch thương mại xuất khẩu thành tăng 0,5% và kim ngạch nhập khẩu thành giảm 1,7%, từ dự báo trước lần lượt tăng 1,0% và tăng 1,8%. Theo chúng tôi, hoạt động thương mại sẽ hồi phục trong quý 3 từ mức thấp trong quý 2 với mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu tăng lần lượt là 18% và 11% so với quý trước và tiếp tục tăng lần lượt 2% và 5% trong quý 4.

Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm ngoái, kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu giảm lần lượt 2,6% và 3,3% so với cùng kỳ trong Q3/2020 (do mức nền so sánh cao trong năm ngoái), và có thể tăng lần lượt 3,0% và 2,0% so với cùng kỳ trong Q4/2020 (Bảng 1 & 2). Những dự báo này của chúng tôi thận trọng hơn so với trước đó (dự báo trước là tăng lần lượt 3% và 2% so với cùng kỳ trong Q3; và tăng lần lượt 8% và 10% trong Q4/2020).

Biểu đồ 1: Dự báo thận trọng đối với kim ngạch xuất khẩu trong 6 tháng cuối năm 2020 

Cập nhật tình hình thương mại – Những bất ổn do dịch COVID-19 vẫn hiện hữu

Biểu đồ 2: Dự báo thận trọng đối với kim ngạch nhập khẩu trong 6 tháng cuối năm 2020 

Nhu cầu toàn cầu vẫn là mối quan ngại chính

Triển vọng kinh tế toàn cầu vẫn ảm đạm. Trong bản cập nhật tháng 6, IMF đã cắt giảm dự báo tăng trưởng toàn cầu xuống giảm 4,9% vào năm 2020, thấp hơn 1,9% so với dự báo trước đó vào tháng 4, do tác động nghiêm trọng hơn dự báo của dịch COVID19 trong nửa đầu năm 2020. Sự phục hồi cũng được dự báo sẽ chậm hơn so với dự báo trước đó. Dự báo này tương tự với dự báo của Ngân hàng Thế giới, cũng dự báo kinh tế là giảm 4,9% trong năm 2020. Tuy nhiên, kim ngạch thương mại của thế giới được dự báo sẽ giảm 11,9% trong năm 2020 (Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, IMF, tháng 6/2020).

Nhu cầu toàn cầu được dự báo sẽ cải thiện một chút trong nửa sau năm 2020. Đối với 5 thị trường xuất khẩu hàng lớn nhất của Việt Nam, chỉ số niềm tin của người tiêu dùng dự kiến nhìn chung sẽ thấp; dù thị trường Trung Quốc phục hồi nhẹ và Nhật Bản tăng trưởng tốt. Tuy nhiên, nhu cầu tại thị trường Hoa Kỳ và EU (những thị trường đã chịu ảnh hưởng nặng nề của COVID-19) dự kiến sẽ vẫn ảm đạm trong hai quý cuối năm 2020. (Bảng 3).

Biểu đồ 3: Nhu cầu toàn cầu được dự báo sụt giảm trong 6 tháng cuối năm 2020 

Các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt đối mặt với nhu cầu sụt giảm

Trong số 10 mặt hàng xuất khẩu chính, chúng tôi thấy có ba nhóm chính. Thứ nhất, một số sản phẩm chịu ảnh hưởng trong 6 tháng đầu năm có thể cải thiện trong nửa cuối năm sau đại dịch gồm: nhóm điện thoại, rau quả, sắt thép. Thứ hai, một số mặt hàng nhiều khả năng sẽ tiếp tục bị ảnh hưởng của nhu cầu toàn cầu sụt giảm trong nửa cuối năm 2020, như: quần áo, giày dép và thủy sản. Thứ ba, các mặt hàng được hưởng lợi từ nhu cầu cao hơn trong thời gian bùng phát dịch, có thể sẽ yếu hơn trong nửa cuối năm 2020 (khi các biện pháp kiểm dịch đang dần được dỡ bỏ và các nền kinh tế trở lại bình thường) như máy tính, thiết bị điện tử, máy móc và gỗ & sản phẩm từ gỗ.

Năm 2021, kỳ vọng sẽ có một sự phục hồi tốt, với dự báo tăng trưởng kinh tế thế giới năm 2021 là 5,4% và kim ngạch thương mại tăng 8,0% (Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới, IMF, 6/2020). Chúng tôi đánh giá Việt Nam nhiều khả năng hồi phục theo xu hướng của thế giới; chúng tôi dự báo kim ngạch xuất khẩu năm 2021 sẽ tăng 6,0% khi nhu cầu bị dồn nén được giải phóng (sau khi chậm lại trong năm 2020 do tác động của COVID-19) và tác động từ các hiệp định FTA đã ký kết.

Bảng 4: Các mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam 

Dịch COVID-19 tác động vừa phải lên thương mại nửa đầu năm 2020

Trong 6 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ, chậm lại so với mức tăng 7,2% trong 6 tháng đầu năm 2019; trong khi đó kim ngạch nhập khẩu giảm 2,9% so với cùng kỳ, so với mức tăng 8,8% trong 6 tháng đầu năm 2019. Đối với kim ngạch xuất khẩu, một số ngành chịu ảnh hưởng nặng nề bởi nhu cầu sụt giảm do tác động của COVID-19 (bao gồm: hàng may mặc, giày dép, thủy sản và điện thoại), trong khi đó nhu cầu đối với một số mặt hàng như: điện tử, máy tính và máy móc (xu hướng làm việc tại nhà có thể là nguyên nhân). Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu chịu ảnh hưởng mạnh hơn do hậu quả kép của các biện pháp giãn cách xã hội, gồm gián đoạn chuỗi cung ứng (do thực hiện các biện pháp phong tỏa) và tác động gián tiếp từ xuất khẩu kém khiến nhu cầu nhập khẩu tư liệu sản xuất thấp hơn.

Xuất khẩu 6 tháng đầu năm vẫn tăng nhờ đơn hàng ký trước dịch Covid-19

Trong nửa đầu năm 2020, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đã chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 (giảm 2,9% so với cùng kỳ) nhiều hơn so với kim ngạch xuất khẩu (tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ). Tuy nhiên dịch Covid-19 đã làm tăng nhu cầu đối với sản phẩm điện tử, máy vi tính, máy móc thiết bị; từ đó giúp kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn tăng trưởng. Dịch Covid-19 đã ảnh hưởng tiêu cực đến các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt cũng như làm gián đoạn chuỗi cung ứng nguyên liệu và tư liệu sản xuất.

Dịch Covid-19 đã làm nhu cầu của thế giới sụt giảm. Đơn hàng xuất khẩu mới – chỉ số thành phần trong PMI ở mức thấp (dưới 50) liên tiếp trong 6 tháng qua. Chúng tôi tin rằng xuất khẩu của Việt Nam trong nửa đầu năm 2020 chủ yếu là nhờ đơn hàng ký được trước khi xảy ra dịch Covid-19.

Biểu đồ 5: Chỉ số đơn hàng xuất khẩu mới ở mức thấp trong 6 tháng đầu năm 2020 

Xuất khẩu được hỗ trợ do nhu cầu tăng ở sản phẩm điện tử và máy móc

Trong 6 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu tăng nhẹ 0,2% so với cùng kỳ; hồi phục từ mức giảm 0,9% so với cùng kỳ trong 5 tháng đầu năm; tuy nhiên kém hơn nhiều so với mức tăng 7,2% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019. Mặc dù kim ngạch xuất khẩu ở một số mặt hàng giảm, dịch Covid-19 đã làm nhu cầu ở các mặt hàng khác tăng.

Trong kỳ, dịch Covid-19 đã làm giảm kim ngạch xuất khẩu ở các nhóm hàng chính của Việt Nam, cụ thể là điện thoại (giảm 6,5% so với cùng kỳ); dệt may (giảm 12,7% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 7,4% so với cùng kỳ), thủy sản (giảm 7,4% so với cùng kỳ) và rau quả (giảm 13,6% so với cùng kỳ). Gỗ & sản phẩm từ gỗ chịu ảnh hưởng vừa phải của dịch COVID-19, giảm tốc từ tăng 17,6% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019 xuống còn tăng 3,6% trong 6 tháng đầu năm 2020.

Tuy nhiên, nhu cầu làm việc tại nhà trong thời gian có dịch bệnh cũng giúp kim ngạch xuất khẩu một số sản phẩm tăng mạnh, chẳng hạn: xuất khẩu máy vi tính & sản phẩm điện tử tăng 25,4% so với cùng kỳ; máy móc & thiết bị tăng 26,5% so với cùng kỳ (lần lượt tăng từ mức tăng 14,2% và 6,5% trong 6 tháng đầu năm 2019).

Kim ngạch nhập khẩu chịu ảnh hưởng nhiều hơn

Kim ngạch nhập khẩu chịu ảnh hưởng từ hai nhân tố bắt nguồn từ dịch Covid-19. Cụ thể, kim ngạch nhập khẩu không chỉ phải đối mặt với sự gián đoạn ở chuỗi cung ứng mà còn gián tiếp chịu ảnh từ sự suy giảm của nhu cầu thế giới (nhu cầu hàng hàng hóa nhập khẩu để tái xuất khẩu giảm). Kim ngạch nhập khẩu 6 tháng đầu năm 2020 giảm 2,9% so với cùng kỳ (6 tháng đầu năm 2019 tăng 8,8%).

Theo đó, kim ngạch nhập khẩu hàng tư liệu sản xuất cũng giảm đáng kể, cụ thể là kim ngạch nhập khẩu máy móc (giảm 4,5% so với cùng kỳ), vải (giảm 15,9% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may & da giày (giảm 14,3% so với cùng kỳ), sắt thép (giảm 16,6% so với cùng kỳ), kim loại cơ bản (giảm 11,7% so với cùng kỳ) và nguyên liệu nhựa (giảm 10,6% so với cùng kỳ). Tuy nhiên, nhờ hoạt động xuất khẩu vẫn tăng nhẹ, nên hàng hóa nhập khẩu làm đầu vào cho sản xuất trong nước tăng, chẳng hạn máy tính, sản phẩm điện tử (tăng 13,8% so với cùng kỳ), điện thoại các loại (tăng 2,7% so với cùng kỳ) và sản phẩm nhựa (tăng 5,8% so với cùng kỳ).

Theo thị trường, thương mại với Mỹ đi ngược xu hướng giảm chung

Dựa trên cơ cấu đối tác thương mại chính trong 6 tháng đầu năm 2020, Mỹ và Trung Quốc là 2 thị trường chính hỗ trợ kim ngạch xuất khẩu trong khi Việt Nam nhập khẩu mạnh từ EU và Nhật Bản, nhiều khả năng là do hiệu ứng từ các Hiệp định FTA ký kết gần đây. Trong khi đó xuất khẩu sang thị trường ASEAN chịu ảnh hưởng nặng.

Bảng 6: Kim ngạch thương mại của Việt Nam với các thị trường chính 

Điểm sáng từ thị trường Mỹ


Nhờ nhu cầu làm việc tại nhà tăng, kim ngạch xuất khẩu sang Mỹ tăng vững, tăng 14,6% so với cùng kỳ nhờ nhu cầu tăng mạnh đối với: sản phẩm điện tử và máy vi tính (tăng 91,1% so với cùng kỳ), máy móc thiết bị (82,4% so với cùng kỳ), gỗ & sản phẩm từ gỗ (tăng 15,3% so với cùng kỳ). Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu của Việt Nam đối với nhóm hàng điện tử, máy vi tính và linh kiện từ Mỹ cũng tăng 3,7% so với cùng kỳ trong kỳ.
Về ảnh hưởng tiêu cực, dịch COVID-19 cũng đã làm giảm kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Mỹ ở một số sản phẩm như: dệt may (giảm 11,9% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 7,7% so với cùng kỳ) và điện thoại các loại (giảm 5,2% so với cùng kỳ). Trong khi đó kim ngạch nhập khẩu từ Mỹ chịu ảnh hưởng nặng nhất của dịch bệnh và chỉ tăng nhẹ 2% so với cùng kỳ; giảm tốc mạnh so với mức tăng 27,2% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019, chủ yếu do Mỹ thực hiện biện pháp phong tỏa.

Thị trường Trung Quốc: kim ngạch xuất khẩu tăng trong khi nhập khẩu giảm


Kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc tăng tốc với sự hỗ trợ mạnh mẽ của sản phẩm điện thoại các loại. Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc tăng 18,2% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020 (6 tháng đầu năm ngoái đi ngang so với cùng kỳ). Điều này một phần nhờ hiệu ứng nền so sánh thấp cùng kỳ năm ngoái và một phần nhờ sự tăng mạnh so với cùng kỳ của kim ngạch xuất khẩu điện thoại các loại (tăng 141,6%), sắt thép (tăng mạnh 11,5 lần từ mức thấp trong 6 tháng đầu năm 2019) và gạo (tăng 88,9%).
Sự gián đoạn ở các chuỗi cung ứng tư liệu sản xuất. Nhập khẩu của Việt Nam từ Trung Quốc giảm 1,9% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2020 so với mức tăng 17,9% so với cùng kỳ trong 6 tháng đầu năm 2019. Kim ngạch nhập khẩu sụt giảm ở một số mặt hàng gồm: điện thoại các loại và linh kiện (giảm 10,6% so với cùng kỳ), vải (giảm 13,2% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may và giày dép (giảm 4,2% so với cùng kỳ), sắt thép (giảm 28,6% so với cùng kỳ). Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu tăng ở một số mặt hàng gồm: điện thoại, sản phẩm điện tử và linh kiện (tăng 14,2% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (giảm 25,5% so với cùng kỳ) và sản phẩm sắt thép (tăng 6,9% so với cùng kỳ).

Thị trường ASEAN chịu ảnh hưởng nặng nề. Kim ngạch thương mại của Việt Nam với thị trường ASEAN giảm đáng kể trong 6 tháng đầu năm 2020. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu giảm 15,6% so với cùng kỳ (6 tháng đầu năm 2019 tăng 6,1% so với cùng kỳ); trong khi đó kim ngạch nhập khẩu giảm 12,1% so với cùng kỳ (6 tháng đầu năm 2019 tăng 4,9% so với cùng kỳ).

Việt Nam đã có sự dịch chuyển chuỗi cung ứng khi kim ngạch nhập khẩu từ EU và Nhật Bản lần lượt tăng 6,7% và 6,9% so với cùng kỳ. Điều này có thể là do các doanh nghiệp thay đổi nguồn cung cấp đầu vào để đáp ứng quy định về xuất xứ của các hiệp định FTA mà Việt Nam đã tham gia gần đây (EVFTA and CPTTP); đồng thời giảm sự phụ thuộc vào thị trường Trung Quốc.

Số liệu thương mại tháng 7 tiếp tục được cải thiện

Số liệu thương mại tháng 7 tiếp tục cho thấy sự cả thiện cả đối với kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu với tăng trưởng lần lượt 10,2% và 6,7% so với tháng trước. Trong khi đó, so với cùng kỳ, kim ngạch xuất khẩu tăng 8,5% còn kim ngạch nhập khẩu giảm 2,5%. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu tăng 1,5% so với cùng kỳ trong khi đó kim ngạch nhập khẩu giảm 3,0% so với cùng kỳ.

Cán cân thương mại vẫn ổn định ở mức thặng dư cao kỷ lục

Thặng dư thương mại của nửa đầu năm đạt mức cao nhất trong lịch sử sáu tháng đầu năm, đạt 5,46 tỷ USD, so với 1,72 tỷ USD trong 6 tháng đầu năm 2019 (Bảng 7). Hơn nữa, cán cân thương mại tiếp tục thặng dư trong tháng 7 với 2,78 tỷ USD, do kim ngạch xuất khẩu được hồi phục mạnh hơn so với kim ngạch nhập khẩu, giúp thặng dư trong 7 tháng đầu năm tăng lên 8,39 tỷ USD, cao hơn nhiều so với gần 2,0 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2019, và tiếp tục ở mức cao kỷ lục.

Biểu đồ 7: Cán cân thương mại của Việt Nam trong các kỳ 6 tháng đầu năm 

TIếp tục cải thiện trong tháng 7

Tổng cục Hải quan đã công bố số liệu kim ngạch thương mại cho tháng 7/2020, số liệu cho thấy sự cải thiện của cả kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch nhập khẩu. Cho đến nay, hoạt động xuất khẩu đã phục hồi trong ba tháng liên tiếp; trong khi kim ngạch nhập khẩu phục hồi trong hai tháng vừa qua. Theo đó, kim ngạch xuất khẩu đạt 24,87 tỷ USD trong tháng 7 (kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong 11 tháng vừa qua), tăng 10,2% so với tháng trước và tăng 8,5% so với cùng kỳ năm trước; trong khi đó kim ngạch nhập khẩu đạt 22,10 tỷ USD, tăng 6,7% so với tháng trước nhưng giảm 2,5% so với cùng kỳ.

Biểu đồ 8: Tăng/giảm kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu từng tháng 

Về kim ngạch xuất khẩu

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong tháng 7/2020 được điều chỉnh tăng thành tăng 8,5% so với cùng kỳ (từ tăng 0,3% so với cùng kỳ trước đó) so với tăng 5,3% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020 và tăng 10,2% so với tháng trước (so với tăng 17,6% tháng 6/2020). Trong 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu (147,6 tỷ USD) tăng 1,5% so với cùng kỳ – điều chỉnh từ mức tăng 0,2% so với cùng kỳ (so với tăng 7,8% so với cùng kỳ trong nửa đầu năm 2019).

Một số xu hướng đáng chú ý trong giao đoạn này như sau:


Sản phẩm máy móc vẫn tăng mạnh – kim ngạch xuất khẩu của nhóm này tăng ổn định 19,9% so với tháng trước và tăng 48,8% so với cùng kỳ.
Nhóm hàng điện tử và máy tính diễn ra trầm lắng – đáng chú ý, kim ngạch xuất khẩu máy tính và sản phẩm điện tử tăng chậm lại còn 3,0% so với tháng trước, sau tháng 6 tăng mạnh, nhưng vẫn tăng 33,8% so với cùng kỳ.
Một số ngành tiếp tục tăng, trong đó một số mặt hàng có mức tăng so với tháng trước, gồm dệt may (tăng 16,9%), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 19,1%), điện thoại (tăng 17,5%) và thủy sản (tăng 10,7%). Trong những nhóm hàng này, tất cả các nhóm đều tăng so với cùng kỳ, trừ nhóm hàng dệt may giảm 7,7% so với cùng kỳ.

Các mặt hàng giảm – một vài mặt hàng tiếp tục giảm như: rau quả (giảm 13,5% so với tháng trước), hạt điều (giảm 6,0% so với tháng trước), cà phê (giảm 9,7% so với tháng trước) và đặc biệt là giày dép (giảm 4,9% so với tháng trước, dù đã tăng trưởng một con số trong tháng 5 và tháng 6).

Trong khi đó, tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2020 được thúc đẩy bởi máy tính và sản phẩm điện (tăng 26,7% so với cùng kỳ), máy móc và thiết bị (tăng 30,0% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 7,6% so với cùng kỳ), gạo (tăng 13,1% so với cùng kỳ) và hàng mỹ nghệ (tăng 19,8% so với cùng kỳ). Những động lực này đã bị bù trừ bởi sự sụt giảm của điện thoại các loại & linh kiện (giảm 4,5% so với cùng kỳ), dệt may (giảm 11,7% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 8,3% so với cùng kỳ), thủy sản (giảm 6,0% so với cùng kỳ), các phương tiện vận tải khác (giảm 11,9% so với cùng kỳ) và rau quả (giảm 13,1% so với cùng kỳ).

Bảng 9: Kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng chính 

Về kim ngạch nhập khẩu

Trong khi đó, tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu tháng 7/2020 được điều chỉnh tăng thành giảm 2,5% so với cùng kỳ (từ giảm 2,9% so với cùng kỳ trước đó) so với tăng 6,4% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020 và tăng 6,7% so với tháng trước (so với tăng 14,0% so với tháng trước trong tháng 6/2020). Nhờ đó, kim ngạch nhập khẩu (139,2 tỷ USD) giảm 2,5% so với cùng kỳ so với tăng 8,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2019. Chúng tôi nhận thấy sự cải thiện đáng kể so với tháng trước trong các mặt hàng chính; nhưng không đủ mạnh để tăng trưởng so với cùng kỳ.

Động lực khiến kim ngạch nhập khẩu tăng trưởng âm so với cùng kỳ là nguyên phụ liệu dệt may & da giày (giảm 22,0% so với cùng kỳ), vải (giảm 12,1% so với cùng kỳ), ô tô (giảm 34,8% so với cùng kỳ), điện thoại các loại & linh kiện (giảm 17,2% so với cùng kỳ) và sắt thép (giảm 7,4% so với cùng).

Trong khi đó, động lực khiến kim ngạch nhập khẩu giảm trong 7 tháng đầu năm 2020 là máy móc & thiết bị (giảm 4,2% so với cùng kỳ), điện thoại các loại & linh kiện (giảm 1,3% so với cùng kỳ), vải (giảm 15,3% so với cùng kỳ), sắt thép (giảm 15,1% so với cùng kỳ), nhựa (giảm 12% so với cùng kỳ), các vật liệu cơ bản khác (giảm 11,4% so với cùng kỳ), ô tô (giảm 31,2% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may & da giày (giảm 15,5% so với cùng kỳ) và hóa chất (giảm 8,0% so với cùng kỳ). Tích cực hơn, kim ngạch nhập khẩu máy tính và thiết bị điện tử và linh kiện vẫn hồi phục với tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng trong 7 tháng đầu năm (tăng 14,6% so với cùng kỳ so với tăng 20,5% trong 7 tháng đầu năm 2019, nhờ đó chiếm 23,5% tổng kim ngạch nhập khẩu). Tương tự, nhu cầu nhập khẩu than tăng (tăng 9,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020 so với tăng 67,5% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020, chiếm 1,8% tổng kim ngạch nhập khẩu), cho thấy tình trạng của Việt Nam là nhập siêu các loại năng lượng sơ cấp.

Bảng 10: Kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng chính 

Nguồn: HSC

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan