Cập nhật nhanh Kinh tế vĩ mô – Vĩ mô đầu tuần: Việt Nam xuất siêu 2.8 tỷ USD trong tháng 7 và 8.4 tỷ USD từ đầu năm

Hoạt động thương mại của Việt Nam vẫn vững vàng trước COVID-19

Cán cân thương mại của Việt Nam thặng dư 2,8 tỷ USD trong tháng 7, cao hơn so với dự báo của GSO (1 tỷ USD) với các động lực tăng trưởng mạnh từ các mặt hàng xuất khẩu chủ chốt như máy tính và thiết bị điện tử (tăng 33,58% so với cùng kỳ), điện thoại các loại & linh kiện (tăng 7,6% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 48,8% so với cùng kỳ), gỗ và các sản phẩm từ gỗ (tăng 29,6% so với cùng kỳ), và sắt thép (tăng 43,9% so với cùng kỳ). Điều này phản ánh nhu cầu nhập khẩu cải thiện nhờ các biện pháp phong tỏa tiếp tục được nới lỏng tại các đối tác thương mại lớn.

Tại Việt Nam, tính đến sáng chủ nhật, Việt Nam đã công bố tổng cộng 951 ca nhiễm (trong đó có 471 ca vẫn đang điều trị) và 24 trường hợp tử vong. Kể từ khi dịch COVID-19 bùng phát trở lại vào ngày 25/7, Việt Nam đã ghi nhận 477 ca lây nhiễm trong cộng đồng tại 15 tỉnh thành phố, chủ yếu liên quan tới Đà Nẵng.

Số liệu kinh tế phục hồi và lạm phát trên toàn thế giới tăng

Cả chỉ số sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tại Mỹ và Trung Quốc tiếp tục hồi phục trong tháng 7 trong khi lạm phát tăng cao hơn dự báo. Tại Mỹ, số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu giảm xuống thấp hơn 1 triệu đơn lần đầu kể từ giữa tháng 3. Tuy nhiên, doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tại Trung Quốc vẫn giảm so với cùng kỳ tháng thứ 7 liên tiếp.

Bảng 1: Lịch công bố số liệu kinh tế quan trọng 

Thế giới

Mỹ

Số lượng đơn xin trợ cấp thất nghiệp lần đầu giảm xuống thấp hơn 1 triệu đơn lần đầu kể từ giữa tháng 3

Số lượng người Mỹ nộp đơn xin nhận trợ cấp thất nghiệp lần đầu giảm nhiều hơn so với dự báo còn 960.000 trong tuần kết thúc ngày 8/8/2020, mức thấp nhất kể từ khi dịch COVID-19 bùng phát. Kết quả này đã chấm dứt 20 tuần liên tiếp số lượng đơn vượt trên 1 triệu. Trong khi đó, số lượng người tiếp tục nhận trợ cấp thất nghiệp cũng giảm còn 15,49 triệu trong tuần kết thúc ngày 1/8/2020, thấp hơn so với dự báo là 15,9 triệu người. Tỷ lệ thất nghiệp giảm 3 tháng liên tiếp còn 10,2% trong tháng 7 từ 11,1% trong tháng 6, 13,3% trong tháng 5 và mức cao nhất kể từ sau Thế Chiến thứ 2 là 14,7% trong tháng 4.

Lạm phát tăng nhanh trong tháng 7 do giá ô tô, quần áo và năng lượng tăng

Chỉ số CPI tháng 7 tăng cao hơn so với cùng kỳ trong tháng thứ 2 liên tiếp lên 1,0% so với cùng kỳ (so với 0,6% trong tháng 6/2020). Cao hơn so với dự báo của thị trường là 0,8%.

Giá năng lượng (xăng và dầu), may mặc và dịch vụ vận chuyển cải thiện mức độ giảm so với cùng kỳ xuống còn 11,2% so với cùng kỳ (so với giảm 12,6% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020), 6,5% so với cùng kỳ (so với giảm 7,3% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020) và 3,7% so với cùng kỳ (so với giảm 7,0% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020) sau khi nới lỏng phong tỏa để phòng dịch COVID-19. Cùng lúc đó, giá thực phẩm tăng 4,1% so với cùng kỳ (so với tăng 4,5% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020). Áp lực tăng còn được đóng góp từ sản phẩm ô tô mới (tăng 0,5% so với cùng kỳ so với giảm 0,2% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020) và dịch vụ chăm sóc sức khỏe ((tăng 5,9% so với cùng kỳ so với tăng 6,0% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020).

Sản xuất công nghiệp và doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiếp tục tăng so với tháng trước trong tháng 7 (tăng tháng thứ 3 liên tiếp)

Sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng 7 tăng 3,0% so với tháng trước (so với tăng 5,7% so với tháng trước trong tháng 6/2020) sát với dự báo của thị trường. Sản lượng ngành chế biến chế tạo tăng 3,4% so với tháng trước, cao hơn dự báo của thị trường nhờ những ngành công nghiệp chính tăng, dù mức độ tăng thấp hơn nhiều so với trong tháng 6. Mức tăng lớn nhất trong tháng 7 là từ xe cộ và phụ tùng (tăng 28,3% so với tháng trước). Khai khoáng tăng 0,8% so với tháng trước sau 5 tháng liên tiếp giảm, trong khi đó sản lượng ngành tiện ích tăng 3,3% so với tháng trước, do nắng nóng bất thường khiến nhu cầu sử dụng điều hòa tăng cao.

Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ trong tháng 7 tăng 1,2% so với tháng trước, đà tăng giảm so với tháng 6/2020 tăng 8,4% so với tháng trước và thấp hơn dự báo của thị trường là tăng 1,9% so với tháng trước. Số liệu này cho thấy dịch COVID-19 bùng phát trở lại và trợ cấp thất nghiệp giảm sẽ khiến nhu cầu tiêu dùng trong nước chịu áp lực.

Những chỉ số PMI sơ bộ tháng 8

Chỉ số PMI sơ bộ ngành chế biến chế tạo và dịch vụ trong tháng 8 sẽ được công bố trong tuần, thị trường dự báo chỉ số PMI của 2 ngành này sẽ lần lượt là 51,8 và 51,0, đây là tín hiệu cho thấy hoạt động tại những ngành này hồi phục nhờ nền kinh tế tiếp tục mở cửa trở lại sau khi nới lỏng những biện pháp phong tỏa những tháng trước.

Khu vực Eurozone

Những chỉ số PMI sơ bộ tháng 8

Trong tháng 7, chỉ số PMI ngành chế biến chế tạo tăng lên 51,8, trong khi đó chỉ số PMI ngành dịch vụ là 54,7, điều đó cho thấy tháng 7 là tháng đầu tiên nền kinh tế khu vực Eurzone tăng trưởng kể từ tháng 2. Thị trường kỳ vọng tâm lý sẽ tiếp tục cải thiện trong tháng 8 dù tốc độ có thể chậm hơn do các ca nhiễm COVID-19 mới tăng và lo ngại về ‘làn sóng thứ hai’ của dịch. Do đó, thị trường dự báo chỉ số PMI của cả lĩnh vực sản xuất và dịch vụ lần lượt là 53,0 và 54,2 trong tháng 8.

Trung Quốc

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng 4 tháng liên tục; doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ giảm so với cùng kỳ tháng thứ 7 liên tiếp

Tăng trưởng sản xuất toàn ngành công nghiệp là 4,8% so với cùng kỳ, thấp hơn dự báo của thị trường là 5,1%, nhưng vẫn cho thấy sự phục hồi kinh tế. Sản lượng ngành chế biến chế tạo và tiện ích tiếp tục tăng trong khi hoạt động khai khoáng giảm. Tính từ đầu năm, sản xuất công nghiệp của Trung Quốc đã giảm 0,4% so với cùng kỳ.

Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ giảm 1,1% so với cùng kỳ, thấp hơn dự báo của thị trường là tăng 0,1% so với cùng kỳ. Đây là tháng giảm thứ 7 liên tiếp của doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ, do người dân tiếp tục tránh những nơi đông đúc, bao gồm các cửa hàng, nhà hàng và rạp chiếu phim do dịch COVID-19. Tính từ đầu năm, doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ của Trung Quốc giảm 9,9% so với cùng kỳ.

CPI tăng cao hơn so với dự báo

Lạm phát tăng 2,7% so với cùng kỳ, tiếp tục phục hồi từ mức thấp nhất trong 14 tháng vào tháng 5 và cao hơn một chút so với dự báo của thị trường là tăng 2,6% so với cùng kỳ. Lạm phát nhóm thực phẩm đạt mức cao nhất trong ba tháng (tăng 13,2% so với cùng kỳ so với tăng 11,1% so với cùng kỳ trong tháng 6/20). Trong khi đó, giá của nhóm phi thực phẩm không đổi, sau khi tăng vào tháng 6. So với tháng trước, lạm phát tăng 0,6% lần đầu tiên sau 5 tháng giảm liên tiếp.

Lãi suất trung tâm PBOC được giữ nguyên

Thị trường kỳ vọng lãi suất chính sách của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (Lãi suất cho vay kỳ hạn một năm) sẽ giữ nguyên trong tháng 8 ở mức 3,85% trong tháng thứ tư liên tiếp, trong bối cảnh các dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang phục hồi sau cú sốc do dịch COVID-19 gây ra, và CPI đang tăng.

Nhật Bản

GDP trong Q2/2020

GDP thực có thể sẽ giảm mạnh 27,2% so với cùng kỳ trong Q2/2020 (so với giảm 2,2% so với cùng kỳ trong Q1/2020). Điều này là do tiêu dùng giảm và thâm hụt thương mại do chịu ảnh hưởng của dịch COVID-19. Đây sẽ là quý thứ 3 liên tiếp của nền kinh tế Nhật Bản tăng trưởng âm.

Khu vực ASEAN

GDP của Malaysia giảm 17,1% so với cùng kỳ trong Q2/2020

GDP giảm 17,1% so với cùng kỳ trong Q2/2020 (so với tăng 0,7% so với cùng kỳ trong Q1/2020), quý đầu tiên giảm kể từ Q3/2009 và là mức giảm mạnh nhất kể từ Q4/1998. Kết quả này tồi tệ hơn dự báo của thị trường là giảm 10% so với cùng kỳ, cho thấy tác động tiêu cực của các biện pháp ngăn chặn sự lây lan của đại dịch COVID-19 được thực hiện trên toàn cầu và trong nước. Sự sụt giảm trên diện rộng; tiêu dùng hộ gia đình giảm 18,5% so với cùng kỳ (so với tăng 6,7% trong Q1/2020), trong khi đầu tư tài sản cố định giảm 28,9% so với cùng kỳ (so với giảm 4,6% trong Q1/2020).

GDP của Thái Lan trong Q2/2020

Thị trường dự báo GDP sẽ giảm 13,7% so với cùng kỳ trong Q2/2020 (so với giảm 1,8% so với cùng kỳ trong Q1/2020) do tiêu dùng hộ gia đình và đầu tư tài sản cố định giảm đáng kể. Đây là hậu quả của các biện pháp giãn cách xã hội được thực hiện trong quý. Điều này cũng có nghĩa là nền kinh tế Thái Lan sẽ bước vào giai đoạn suy thoái.

Việt Nam

Số liệu thương mại trong tháng 7 tiếp tục cải thiện so với tháng trước

Tổng cục Hải Quan công bố số liệu thương mại trong tháng 7 vào thứ tư tuần trước.

Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu trong tháng 7/2020 được điều chỉnh thành tăng 8,5% so với cùng kỳ (từ tăng 0,3% so với cùng kỳ trước đó), so với tăng 5,3% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020 và tăng 10,2% so với tháng trước (so với tăng 17,6% so với tháng trước trong tháng 6/2020). Động lực tăng trưởng là máy tính và thiết bị điện tử (tăng 33,58% so với cùng kỳ), điện thoại các loại & linh kiện (tăng 7,6% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 48,8% so với cùng kỳ), gỗ và các sản phẩm từ gỗ (tăng 29,6% so với cùng kỳ) và sắt và thép (tăng 43,95 so với cùng kỳ). Trong khi đó, đối với các mặt hàng chịu tác động của dịch COVID-19, dệt may (tăng 16,9% so với tháng trước), thủy sản (tăng 10,7% so với tháng trước) đã hồi phục cho với tháng trước đó trong tháng thứ 3 liên tiếp.

Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu trong tháng 7/2020 cũng được điều chỉnh thành giảm 2,5% so với cùng kỳ (từ giảm 2,9% so với cùng kỳ trước đó), so với tăng 6,4% so với cùng kỳ trong tháng 6/2020 và tăng 6,7% so với tháng trước (so với tăng 14,0% trong tháng 6/2020). Các động lực khiến kim ngạch nhập khẩu giảm so với cùng kỳ là điện thoại các loại & linh kiện (giảm 17,2% so với cùng kỳ), vải (giảm 12,1% so với cùng kỳ), sắt và thép (giảm 7,4% so với cùng kỳ), ô tô (giảm 34,8% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may & da giày (giảm 22,0% so với cùng kỳ).

Trong 7 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu (147,6 tỷ USD) tăng 1,5% so với cùng kỳ – điều chỉnh từ tăng 0,2% so với cùng kỳ trước đó (so với tăng 7,8% trong 7 tháng đầu năm 2019), trong khi đó kim ngạch nhập khẩu (139,2 tỷ USD) tăng 2,5% so với cùng kỳ (so với tăng 8,4% trong 7 tháng đầu năm 2019).

Tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu trong 7 tháng đầu năm 2020 đến từ máy tính và thiết bị điện tử (tăng 26,7% so với cùng kỳ), máy móc & thiết bị (tăng 30,0% so với cùng kỳ), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 7,6% so với cùng kỳ), gạo (tăng 13,1% so với cùng kỳ) và sản phẩm mỹ nghệ (tăng 19,8% so với cùng kỳ). Những động lực này đã bị bù trừ bởi sự sụt giảm của điện thoại các loại & linh kiện (giảm 4,5% so với cùng kỳ), dệt may (giảm 11,7% so với cùng kỳ), giày dép (giảm 8,3% so với cùng kỳ), thủy sản (giảm 6,0% so với cùng kỳ), các phương tiện vận tải khác (giảm 11,9% so với cùng kỳ) và rau củ (giảm 13,1% so với cùng kỳ).

Trong khi đó, động lực khiến kim ngạch nhập khẩu giảm trong 7 tháng đầu năm 2020 là máy móc & thiết bị (giảm 4,2% so với cùng kỳ), điện thoại các loại & linh kiện (giảm 1,3% so với cùng kỳ), vải (giảm 15,3% so với cùng kỳ), sắt thép (giảm 15,1% so với cùng kỳ), nhựa (giảm 12% so với cùng kỳ), các vật liệu cơ bản khác (giảm 11,4% so với cùng kỳ), ô tô (giảm 31,2% so với cùng kỳ), nguyên phụ liệu dệt may & da giày (giảm 15,5% so với cùng kỳ) và hóa chất (giảm 8,0% so với cùng kỳ).

Tích cực hơn, kim ngạch nhập khẩu máy tính và thiết bị điện tử và linh kiện vẫn hồi phục với tỷ lệ tăng trưởng ấn tượng trong 7 tháng đầu năm (tăng 14,6% so với cùng kỳ so với tăng 20,5% trong 7 tháng đầu năm 2019, nhờ đó chiếm 23,5% tổng kim ngạch nhập khẩu). Tương tự, nhu cầu nhập khẩu than tăng (tăng 9,4% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020 so với tăng 67,5% so với cùng kỳ trong 7 tháng đầu năm 2020, chiếm 1,8% tổng kim ngạch nhập khẩu), cho thấy tình trạng của Việt Nam là nhập siêu các loại năng lượng cơ bản.

Với việc kim ngạch nhập khẩu giảm trong khi kim ngạch xuất khẩu tăng, Việt Nam ghi nhận thặng dư thương mại là 2,8 tỷ USD trong tháng 7/2020 và 8,4 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2020 so với thặng dư 2,0 tỷ USD trong 7 tháng đầu năm 2019.

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Nguồn: HSC

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan