Báo cáo kinh tế hàng tháng – Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 8/2020

Bất chấp COVID-19, GDP vẫn tích cực trong Q3/2020

Hạn chế di chuyển vẫn là yếu tố kìm hãm tăng trưởng

Việt Nam đã cho phép nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế từ ngày 18/9/2020 tới một số quốc gia sau gần 6 tháng tạm dừng. Dù chúng tôi cho rằng lượng khách quốc tế có thể bắt đầu tăng, nhưng sẽ không đáng kể vì các chuyến bay chưa được mở cho du lịch. Chúng tôi không kỳ vọng du lịch quốc tế sẽ chỉ phục hồi hoàn toàn vào năm 2022, vì vắcxin hiệu quả khó có thể phân phối rộng rãi ở Việt Nam sớm nhất cho tới cuối năm 2021.

Các động lực tăng trưởng chính cho năm 2020 và 2021 sẽ nằm ở lĩnh vực tương đối miễn nhiễm với các hạn chế di chuyển, bao gồm các hoạt động định hướng xuất khẩu và chi tiêu của chính phủ. Bù trừ lại điều này sẽ là sự sụt giảm tiêu dùng trong nước do tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, đặc biệt là trong các ngành liên quan đến khu vực du lịch.

Chúng tôi cho rằng VND có triển vọng ổn định so với đồng USD, bất chấp chính sách nới lỏng tiền tệ của NHNN

Do đó, chúng tôi đã điều chỉnh dự báo tỷ giá USD/VND lần lượt lên 23.175đ và 23.350đ cho năm 2020 và năm 2021 (từ mức 23.401 đồng và 23.699 đồng trước đó) phản ánh gia tăng dự trữ ngoại hối và tình hình cán cân thanh toán tích cực, được thúc đẩy chủ yếu nhờ thặng dư thương mại lớn.

Chúng tôi dự báo tăng trưởng GDP trong giai đoạn 2020-2022 lần lượt là 2,5%, 6,75% và 7,20%

Chúng tôi đã điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng GDP trong Q3/2020 và Q4/2020 lần lượt xuống 2,53% và 3,36% (từ 3,88% và 5,10% trước đó); dự báo GDP cả năm 2020 của chúng tôi hiện là 2,50%, giảm từ 3,41% trước đó. Chúng tôi cũng đã giảm dự báo tăng trưởng năm 2021 từ 7,78% xuống 6,75%. Tích cực hơn, bước sang năm 2022, chúng ta có thể mong đợi sự phục hồi mạnh mẽ của khu vực dịch vụ (đặc biệt nếu vắc-xin được phân phối rộng rãi trong năm 2021). Điều này sẽ đảm bảo tăng trưởng GDP vượt 7% trong năm 2022. Dự báo tăng trưởng của chúng tôi cho năm 2021 và năm 2022 đều cao hơn so với dự báo của thị trường.

Bảng 1: Xu hướng các chỉ số gần đây 

Tăng trưởng tích cực bất chấp COVID-19 bùng phát trở lại

Chúng tôi dự báo nền kinh tế Việt Nam tăng trưởng 2,53% trong Q3/2020 và 2,5% trong cả năm 2020

Trong các báo cáo gần đây của chúng tôi (Triển vọng tăng trưởng năm 2020 gặp khó khăn, ngày 17/4/2020 và Nền kinh tế kiên cường chống lại COVID-19, 29/7/2020, HSC), chúng tôi đã lập luận (với kịch bản cơ sở) là nền kinh tế Việt Nam sẽ tăng trưởng ở mức 3,41% trong năm 2020. Điều này dựa trên giả định rằng, từ Q2/2020, COVID-19 sẽ giảm dần, ở cả Việt Nam và trên toàn thế giới, và nền kinh tế toàn cầu sẽ giảm 2,0% trong năm 2020.

Tuy nhiên, làn sóng thứ 2 của dịch COVID-19 đã bùng phát (dù vẫn đang được kiểm soát tốt tại Việt Nam, nhưng không có kết quả tương tự đối với hầu hết các quốc gia trên thế giới) và thị trường hiện dự báo GDP toàn cầu sẽ giảm mạnh hơn nhiều so với các dự báo trước đó, ở mức 4,9% (Triển vọng Kinh tế Toàn cầu, tháng 4/2020, IMF). Ngoài ra, chúng tôi dự báo sẽ không có sự hồi phục nào đối với du khách quốc tế cho tới cuối năm 2021 hoặc sang năm 2022, hoặc trừ khi cho tới lúc vác-xin có hiệu quả được phân phối rộng rãi. Kết quả là, chúng tôi hiện đánh giá bi quan hơn về nền kinh tế trong thời gian tới.

Biểu đồ 2: Làn sóng dịch Covid-19 thứ 2 tại Việt Nam bắt đầu từ ngày 25/7 đến nay đã được kiểm soát 

Báo cáo kinh tế hàng tháng – Cập nhật tình hình vĩ mô tới tháng 8/2020

Biểu đồ 3: Các chuyến bay trong nước khôi phục và lượng hành khách trong nước đang hồi phục về mức trước dịch COVID-19

Đồng thời, cần phải khẳng định việc kiểm soát tốt dịch COVID-19 (thông qua các hạn chế di chuyển ở phạm vi nhỏ nhất có thể) đã hạn chế tác động tiêu cức tới kinh tế trong nước. Có thể nói, làn sóng COVID-19 thứ hai của Việt Nam hiện đã được kiểm soát; 15 ngày đã trôi qua không có lây nhiễm trong cộng đồng (tính tại thời điểm thứ sáu, ngày 18/9/2020). (Biểu đồ 2).

Biểu đồ 4: Xuất khẩu tăng mạnh trở lại, nhờ xuất khẩu điện tử và máy móc & thiết bị; kim ngạch xuất khẩu hàng tháng vượt xa mức trước dịch 

Biểu đồ 5:…giúp thặng dư thương mại đạt mức cao nhất trong lịch sử 

Dù làn sóng thứ hai là làn sóng lớn nhất Việt Nam trải qua, nhưng tác động tiêu cực đối với nền kinh tế trong nước chắc chắn ít hơn so với tác động của việc giãn cách xã hội toàn quốc áp dụng vào tháng tư. Điều này được chứng minh bằng dữ liệu tần suất cao theo dõi về di chuyển hàng không (Biểu đồ 3), hoạt động thương mại (Biểu đồ 4, 5), giá trị sản xuất công nghiệp (Biểu đồ 6) và doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (Biểu đồ 8).

Biểu đồ 6: Các ngành sản xuất định hướng xuất khẩu tăng trưởng bền vững 

Biểu đồ 7: Tuy nhiên lượng khách quốc tế sụt giảm mạnh – tình trạng này có thế kéo dài đến cuối năm 2021 

Di chuyển hàng không trong nước gần như đã phục hồi về mức trước dịch COVID19. Đồng thời, kim ngạch xuất khẩu hàng tháng trên thực tế đã vượt xa mức trước dịch COVID-19. Điều này giúp thặng dư thương mại đạt mức kỷ lục; khu vực sản xuất định hướng xuất khẩu vẫn là động lực chính cho tăng trưởng sản xuất công nghiệp của Việt Nam.

Tuy nhiên, tính tới thời điểm hiện tại, lượng khách du lịch quốc tế đã giảm 66,6% so với cùng kỳ và hiện gần như không có khách du lịch. Do chúng tôi không kỳ vọng vác-xin COVID-19 hiệu quả sẽ được phân phối rộng rãi sớm nhất là đến nửa cuối năm 2021 (Việt Nam có thể tiếp cận vắc xin COVID-19 vào nửa cuối năm 2021: Bộ Báo cáo Vĩ mô tóm tắt Thứ Tư, ngày 23 tháng 9 năm 2020 www.hsc.com.vn Trang 4 Xin vui lòng xem nội dung chi tiết về xung đột lợi ích và khuyến cáo cuối báo cáo này trưởng Bộ Y tế, ngày 21/8/2020, báo Tuổi Trẻ) , chúng tôi cho rằng sự hồi sinh của du lịch quốc tế trong năm 2021 là điều khó có thể diễn ra. Điều này sẽ hạn chế sự phục hồi của tăng trưởng doanh số bán lẻ hàng hóa & dịch vụ của Việt Nam, do doanh thu du lịch được ước tính tương đương 11,9% tổng GDP trong năm 2019.

Biểu đồ 8: Tình trạng doanh thu sụt giảm từ mảng du lịch, khiến doanh số bán lẻ khó phục hổi hơn nhiều so với mức hiện tại 

Biểu đồ 9: Chúng tôi hiện dự báo GDP 2020 sẽ tăng trưởng 2,5%, nhờ cán cân thương mại tăng nhưng bị ảnh hưởng bởi tiêu dùng nội địa giảm.

Tóm lại, tăng trưởng trong năm 2020 và 2021 sẽ đến từ các khu vực của nền kinh tế tương đối miễn nhiễm với các hạn chế di chuyển – bao gồm các hoạt động sản xuất định hướng xuất khẩu và chi tiêu của chính phủ. Bù trừ lại sẽ là sự sụt giảm tiêu dùng cá nhân do tỷ lệ thất nghiệp gia tăng, đặc biệt là trong các lĩnh vực liên quan đến du lịch (Biểu đồ 9). Do đó, chúng tôi dự đoán thâm hụt ngân sách sẽ tăng lên 5,82% GDP vào năm 2020 và 4,22% GDP vào năm 2021 (từ 5,77% và 3,28% trước đây).

Thời gian tới, chúng tôi điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng GDP Q3/2020 và Q4/2020 lần lượt còn 2,53% và 3,36% (từ 3,88% và 5,1%), do đó dự báo tăng trưởng GDP cả năm giảm xuống 2,50% từ 3,41% trước đó). Chúng tôi cũng điều chỉnh giảm tăng trưởng GDP năm 2021 từ 7,78% xuống 6,75%.

Tích cực hơn, chúng tôi kỳ vọng sự phục hồi mạnh mẽ của khu vực dịch vụ và theo đó là nhu cầu trong nước, trong năm 2022. Giả định chính của chúng tôi là vác-xin hiệu quả sẽ được phân phối rộng rãi từ cuối năm 2021. Nếu điều này xảy ra, chúng tôi kỳ vọng tăng trưởng GDP năm 2022 sẽ dễ dàng vượt quá 7%. Dự báo tăng trưởng của chúng tôi cao hơn so với dự báo của thị trường (Bảng 10).

Bảng 10: Dự báo tăng trưởng của chúng tôi cao hơn dự báo của thị trường 

Số liệu kinh tế vĩ mô tháng 8

Áp lực lạm phát giảm bớt

Biểu đồ 11: CPI T8/2020 thu hẹp đà tăng so với cùng kỳ… 

Biểu đồ 12: …nhờ lạm phát lương thực, thực phẩm hạ nhiệt 

Trong tháng 8/2020, dù lạm phát tăng nhẹ 0,07% so với tháng trước (so với tăng 0,40% so với tháng trước trong tháng 7/2020), mức tăng của lạm phát tổng thế thu hẹp còn tăng 3,18% so với cùng kỳ, từ tăng 3,39% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020 (Biểu đồ 11, 12).

Lạm phát tổng thể thu hẹp trong tháng 8/2020 chủ yếu là do lạm phát nhóm thực phẩm giảm (tăng 14,80% so với cùng kỳ so với tăng 15,04% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020), nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng 0,43% so với cùng kỳ so với tăng 0,66% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020) và thuốc & dịch vụ y tế (tăng 0,58% so với cùng kỳ so với tăng 3,38% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020).

Lạm phát nhóm hàng thực phẩm đảo chiều và hạ nhiệt tháng thứ 2 liên tiếp từ mức cao kỷ lục trong tháng 6/2020 (tăng 15,86% so với cùng kỳ).

Trong khi đó lạm phát nhóm hàng giao thông thu hẹp đà giảm còn 13,56% so với cùng kỳ trong tháng 8/2020 (từ 14,04% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020). Giá năng lượng hồi phục tháng thứ 3 liên tiếp, mặc dù vậy thị trường dự báo giá dầu sẽ khó hồi phục mạnh trong Q4/2020.

Với yếu tố giá thịt lợn bình ổn sớm hơn dự báo và không nhiều khả năng giá dầu thô sẽ hồi phục mạnh, chúng tôi điều chỉnh CPI mục tiêu năm 2020 còn tăng 3,7% (bình quân CPI 12 tháng) từ tăng 4,0% trước đó. Chúng tôi cũng cho rằng lạm phát sẽ ở mức vừa phải là 3,5% trong năm 2021 trước khi tăng lên 3,6% trong năm 2022 (Báo cáo: Áp lực lạm phát đang giảm, 14/9/2020, HSC).

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng với tốc độ chậm hơn so với tháng trước và giảm so với cùng kỳ

Trong bối cảnh dịch Covid-19 bùng phát tại Đà Nẵng và một số tỉnh thành khác, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm 0,6% so với cùng kỳ trong tháng 8/2020 (tháng 7/2020 tăng 1,1% so với cùng kỳ) và kéo giảm tăng trưởng tính từ đầu năm. Cụ thể chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp 8 tháng đầu năm 2020 chỉ tăng 2,2% so với cùng kỳ (8 tháng đầu năm 2019 tăng 9,5% so với cùng kỳ) – mức tăng thấp nhất (xét cho kỳ 8 tháng đầu năm) kể từ năm 2012. Chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo giảm 0,1% so với cùng kỳ trong tháng 8/2020 (tháng 7/2020 tăng 2,1% so với cùng kỳ) và tăng 3,7% trong 8 tháng đầu năm 2020 (8 tháng đầu năm 2019 tăng 10,6% so với cùng kỳ).

Một trong những lý do khiến chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp giảm so với cùng kỳ là nền so sánh cao trong tháng 8/2019. Sự sụt giảm này còn do thiết bị truyền thông giảm (giảm 6,4% so với cùng kỳ trong tháng 8/2020 so với giảm 7,0% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020) (Biểu đồ 14).

Mặc dù vậy, giá trị sản xuất công nghiệp và chỉ số công nghiệp chế biến chế tạo trong tháng 8 đều tăng lần lượt 3,5% và 6,1% so với tháng trước, đánh dấu tháng thứ 4 liên tiếp tăng so với tháng trước đó.

Dù chỉ số công nghiệp chế biến chế tạo của GSO tăng so với tháng trước, chỉ số PMI sản xuất giảm còn 45,7 trong tháng 8/2020 từ 47,6 trong tháng 7/2020, khi dịch COVID-19 trong nước bùng phát trở lại (Biểu đồ 13). Đây là tháng thú 2 liên tiếp khu vực sản xuất suy giảm theo số liệu PMI. Sản lượng, số đơn đặt hàng mới và số đơn xuất khẩu mới giảm tháng thứ 2 liên tiếp, và giảm mạnh hơn so với tháng 7/2020. Trong khi đó, số lượng việc làm cũng giảm.

Đồng thời, tác động của dịch COVID-19 khiến thời gian giao hàng của nhà cung cấp kéo dài và tăng chi phí đầu vào (tháng thứ 3 liên tiếp), trong khi nhu cầu tiêu dùng kém khiến giá bán thành phẩm giảm tháng thứ 7 liên tiếp. Điều này cho thấy con đường hồi phục của khu vực sản xuất vẫn còn nhiều thách thức.

Biểu đồ 13: Cả chỉ số ngành công nghiệp chế biến chế tạo và chỉ sổ PMI đều hồi phục từ mức thấp trong tháng 4… 

Biểu đồ 14: … nhờ sản xuất điện tử và hàng dệt may & may mặc tăng mạnh 

Hoạt động FDI chậm lại, trong khi đó đầu tư công tiếp tục đẩy nhanh

Trong 8 tháng đầu năm 2020, FDI cam kết và thực hiện ước tính đạt lần lượt 19,5 tỷ USD (giảm 13,7% so với cùng kỳ) và 11,4 tỷ USD (giảm 5,1% so với cùng kỳ). FDI cam kết và thực hiện trong tháng 8 lần lượt giảm 70,1% so với cùng kỳ (giảm 77,1% so với tháng trước) và giảm 12,8% so với cùng kỳ (giảm 16,3% so với tháng trước) (Biểu đồ 15).

Ngành sản xuất chiếm 47,7% tổng vốn FDI cam kết, ngành BĐS chiếm 14,7% và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt chiếm 20,6%. Về FDI thực hiện, ngành sản xuất chiếm 71,1%, ngành BĐS chiếm 14,9% và ngành sản xuất, phân phối điện, khí đốt chiếm 7%.

Hạn chế di chuyển tiếp tục cản trở các NĐT trong việc ra quyết định đầu tư mới. Vốn FDI đăng ký mới trong 8 tháng đầu năm 2020 sụt giảm khi những nguồn FDI chính là Trung Quốc (giảm 45,3% so với cùng kỳ), Hồng Kông (giảm 22,8% so với cùng kỳ), Hàn Quốc (giảm 39,6% so với cùng kỳ) và Nhật Bản (giảm 62,7% so với cùng kỳ) (Biểu đồ 16).

Hoạt động xây dựng sử dụng vốn đầu tư công đã tăng tốc đáng kể trong 4 tháng qua ở khắp các tỉnh thành trên cả nước

Cụ thể, đầu tư công trong tháng 8/2020 đạt 47,4 nghìn tỷ đồng (tăng 50,5% so với cùng kỳ và tăng 3,5% so với tháng trước), đưa tổng vốn đầu tư công trong 8 tháng đầu năm 2020 lên 250,5 nghìn tỷ đồng (tăng 32,4% so với cùng kỳ); tương đương 53,2% kế hoạch của Chính phủ đề ra cho cả năm 2020. Tốc độ giải ngân được đẩy nhanh gần đây là nhờ nỗ lực đẩy mạnh đầu tư công – một trong những trụ cột hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong năm 2020.

Biểu đồ 15: Dòng vốn FDI đăng ký trong 8 tháng 2020 ghi nhận mức tăng trưởng âm (-13,7% so với cùng kỳ) 

Biểu đồ 16: Vốn FDI đăng ký mới trong 8 tháng 2020 từ Trung Quốc giảm 45,3% so với cùng kỳ 

Thặng dư thương mại tăng 5,0 tỷ USD trong tháng 8 lên tổng cộng 13,5 tỷ USD từ đầu năm

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu trong tháng 8/2020 đã được điều chỉnh lên tăng 7,1% so với cùng kỳ (từ tăng 2,5% so với cùng kỳ trong ước tính trước đó), so với tăng 8,5% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020 và tăng 11,4% so với tháng trước (so với tăng 10,2% so với tháng trước trong tháng 7/2020) (Biểu đồ 17).

Những động lực chính ở đây là máy vi tính và sản phẩm điện tử (tăng 17,9% so với cùng kỳ); máy móc & thiết bị (tăng 64,2% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 83,1% so với cùng kỳ) và tăng trưởng ấn tượng của những lô hàng nông lâm thủy sản gồm hàng mỹ nghệ (tăng 73,7%), gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 21,6% so với cùng kỳ), gạo (tăng 13,0% so với cùng kỳ), rau quả (tăng 2,7% so với cùng kỳ) và cao su (tăng 12,6% so với cùng kỳ). Trong khi đó, trong số các mặt hàng bị ảnh hưởng nặng nề nhất bởi COVID-19, các sản phẩm thủy sản (tăng 2,3% so với tháng trước trong tháng 8/2020), cho thấy mức phục hồi đáng kể trong tháng thứ 4 liên tiếp.

Trong khi đó, tăng trưởng kim ngạch nhập khẩu trong tháng 8/2020 đã được điều chỉnh giảm còn tăng 1,6% so với cùng kỳ (từ tăng 2,8% so với cùng kỳ trước đó), so với giảm 2,5% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020 và tăng 2,8% so với tháng trước (so với tăng 6,7% so với tháng trước trong tháng 7/2020) (Biểu đồ 18).

Những động lực chính giúp kim ngạch nhập khẩu tăng là máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 21,7% so với cùng kỳ); máy móc & thiết bị (tăng 2,0% so với cùng kỳ), sản phẩm nhựa (tăng 11,3% so với cùng kỳ), các sản phẩm từ sắt thép (tăng 11,6% so với cùng kỳ) và cao su (tăng 15,1% so với cùng kỳ).

Biểu đồ 17: Kim ngạch xuất khẩu T8/2020 tăng 7,1% so với cùng kỳ 

Biểu đồ 18: Trong khi kim ngạch nhập khẩu T8/2020 tăng 1,6% so với cùng kỳ 

Trong 8 tháng đầu năm 2020, kim ngạch xuất khẩu (175,4 tỷ USD) tăng 2,3% so với cùng năm ngoái – điều chỉnh tăng thêm so với mức 1,6% ước tính trước đó (so với tăng 8,1% trong 8 tháng đầu năm) trong khi kim ngạch nhập khẩu giảm 2,4% so với cùng kỳ (so với tăng 8,0% trong 8 tháng đầu năm 2020).

Kim ngạch xuất khẩu tăng trong 8 tháng đầu năm nhờ máy tính và sản phẩm điện tử (tăng 25,3% so với cùng kỳ); máy móc & thiết bị (tăng 34,9% so với cùng kỳ); gỗ và sản phẩm từ gỗ (tăng 9,7% so với cùng kỳ), sắt thép (tăng 9,6% so với cùng kỳ); và gạo (tăng 13,1% so với cùng kỳ) (Biểu đồ 19).

Trong khi đó, động lực chính khiến kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm giảm là máy móc & thiết bị (giảm 3,6% so với cùng kỳ); điện thoại các loại và linh kiện (giảm 2,53 so với cùng kỳ); vải các loại (giảm 14,6% so với cùng kỳ); sắt thép (giảm 15,9% so với cùng kỳ); nhựa (giảm 12,5% so với cùng kỳ); ô tô (giảm 28,4% so với cùng kỳ) và nguyên phụ liệu dệt may, da giày (giảm 14,7% so với cùng kỳ) (Biểu đồ 20).

Tích cực hơn, kim ngạch nhập khẩu máy tính và sản phẩm điện tử và linh kiện vẫn ghi nhận mức tăng trưởng trong 8 tháng đầu năm 2020 (tăng 15,6% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2020 so với tăng 20,6% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2019, từ đó chiếm 23,9% tổng kim ngạch nhập khẩu).

Biểu đồ 19: Kim ngạch xuất khẩu 8 tháng đầu năm 2020 tăng 2,3% so với cùng kỳ 

Biểu đồ 20: Kim ngạch nhập khẩu 8 tháng đầu năm 2020 giảm 2,4% so với cùng kỳ 

Do kim ngạch nhập khẩu giảm trong khi kim ngạch xuất khẩu tăng, Việt Nam đã ghi nhận thặng dư thương mại ước tính 13,5 tỷ USD trong 8 tháng đầu năm 2020 (8 tháng đầu năm 2019 là 5,5 tỷ USD).

Thặng dư thương mại lớn giúp bình ổn tỷ giá USD/VND…

Cùng với tái bùng phát của dịch COVID-19, dòng vốn bị rút tiếp tục tăng lên 3.302 tỷ đồng trong tháng 8 từ mức bán ròng 462 tỷ đồng trong tháng 7 (Biểu đồ 21). Tuy nhiên, thặng dư thương mại cao sẽ tiếp tục hỗ trợ bình ổn tỷ giá USD/VND trong phần còn lại của năm (Biểu đồ 22).

Chúng tôi từ đó đã điều chỉnh dự báo tỷ giá USD/VND lần lượt còn 23.175đ và 23.350đ cho năm 2020 và năm 2021 (từ mức 23.401 đồng và 23.699 đồng trước đó).

Việc điều chỉnh phản ánh gia tăng dự trữ ngoại hối và tình hình cán cân thanh toán tích cực (dự báo dự trữ ngoại hối năm 2020 hiện tăng lên 98 tỷ USD từ 86 tỷ USD trước đó), tình hình cán cân thanh toán vững chắc trong năm thứ 5 liên tiếp, với cán cân vãng lai trong năm 2020 ước đạt 4,1% GDP (chủ yếu nhờ thặng dư thương mại cao).

Biểu đồ 21: Nhà đầu tư nước ngoài bán ròng 4 nghìn tỷ đồng (173 triệu USD) trong 8T/2020 so với dòng vốn vào 10,6 nghìn tỷ đồng trong 8T/2019. 

Biểu đồ 22: Chúng tôi kỳ vọng tỷ giá USD/VND sẽ ổn định trong năm 2020 do dự trữ ngoại hối ổn định và thặng dư tài khoản vãng lai đáng kể. 

Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ chịu tác động tiêu cực của việc bùng phát dịch COVID-19

Doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là 422,9 nghìn tỷ đồng, tăng 2,3% so với cùng kỳ trong tháng 8 (so với tăng 5,6% so với cùng kỳ trong tháng 7/2020) và giảm 2,7% so với tháng trước (so với tăng 4,0% so với tháng trước trong tháng 7/2020), đưa doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vũ lũy kế đạt 3.225 nghìn tỷ đồng trong 8 tháng đầu năm (giảm 0,02% so với cùng kỳ so với tăng 11,54% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2019) (Biểu đồ 23).

Điều này cho thấy nhu cầu trong nước đã lần đầu tiên giảm so với tháng trước sau 3 tháng phục hồi liên tiếp sau đợt phong tỏa trên toàn quốc vào tháng 4/2020. Tuy nhiên, sự sụt giảm hiện tại rõ ràng là ít nghiêm trọng hơn so với hậu quả của lệnh phong tỏa trong tháng 4/2020, nhờ cách tiếp cận mới của Chính phủ về các hạn chế di chuyển ở phạm vi nhỏ nhất có thể, thực hiện tại các khu vực bao gồm Đà Nẵng, Quảng Ngãi và Hải Dương.

Cụ thể, trong tháng 8, doanh thu bán lẻ hàng hóa & dịch vụ (334,3 nghìn tỷ đồng) tăng 7,1% so với cùng kỳ và giảm nhẹ 0,2% so với tháng trước (so với tăng 8,3 so với cùng kỳ và tăng 3,0% so với tháng trước trong tháng 7/2020). Trong khi đó, doanh số bán lẻ dịch vụ lưu trú và ăn uống (41,3 nghìn tỷ đồng) giảm 15,6% so với cùng kỳ (tháng 7/2020 giảm 3,9% so với cùng kỳ) và giảm 14,7% so với tháng trước (tháng 7/2020 tăng 9,8% so với tháng trước); doanh số bán lẻ dịch vụ du lịch lữ hành (974 tỷ đồng) giảm 75% so với cùng kỳ (tháng 7/2020 giảm 34,7% so với cùng kỳ) và giảm 61,8% so với tháng trước (tháng 7/2020 tăng 112,8% so với tháng trước).

Biểu đồ 23: Doanh số bán lẻ hàng tháng chứng kiến sự sụt giảm từ làn sóng COVID-19 thứ hai, riêng T8/2020 giảm 2,7% so với tháng trước. 

Biểu đồ 24: Lượng khách quốc tế đến Việt Nam trong T8/2020 giảm 98,9% so với cùng kỳ và trong 8 tháng đầu năm 2020 giảm 66,6% so với cùng kỳ. 

Với các chuyến bay quốc tế vẫn tạm thời dừng hoạt động từ ngày 25/3/2020, lượng khách quốc tế tiếp tục giảm trong tháng 8/2020 (giảm 98,9% so với cùng kỳ còn 16,3 nghìn lượt; chủ yếu là chuyên gia nước ngoài và kỹ sư trình độ cao).

Trong tháng 8, Trung Quốc (6,3 nghìn người, giảm 98,7% so với cùng kỳ), Hàn Quốc (3,2 nghìn người, giảm 99,2% so với cùng kỳ), Nhật Bản (224 người, giảm 99,8% so với cùng kỳ), Mỹ (131 người, giảm 99,8% so với cùng kỳ) và Châu Âu (1.042 người, giảm 99,4% so với cùng kỳ) hầu như không có khách du lịch tới Việt Nam. Trong 8 tháng đầu năm 2020, lượng khách quốc tế đạt tổng cộng 3,77 triệu người (gần như không đổi kể từ tháng 4/2020), giảm 66,6% so với cùng kỳ (8 tháng đầu năm 2019 tăng 8,7% so với cùng kỳ). (Hình 24).

Trong thời gian tới, với việc kiểm soát thành công dịch COVID-19 một lần nữa và các biện pháp hạn chế di chuyển trong phạm vi nhỏ nhất có thể được dỡ bỏ, chúng tôi có cơ sở để kỳ vọng doanh số bán lẻ hàng hóa và dịch vụ sẽ hồi phục trong những tháng tới. Vào ngày 18/9/2020, Việt Nam xác nhận không ghi nhận ca nhiễm COVID-19 mới nào trong cộng đồng trong 15 ngày liên tiếp (Việt Nam trải qua 15 ngày không có ca COVID-19 nào lây nhiễm trong cộng đồng, 18/9/2020, VnExpress).

Đà Nẵng, tâm điểm của đợt bùng phát COVID-19 thứ hai trên cả nước, đã mở cửa trở lại các bãi biển công cộng và cho phép các nhà hàng, quán ăn cung cấp dịch vụ ăn uống kể từ ngày 11/9/2020 (Hàng không tăng nhiều chuyến bay tới Đà Nẵng sau khi dịch COVID-19 dịu đi, ngày 10/9/2020, VnExpress).

Việt Nam cũng đã thực hiện tiến độ dự kiến là cho phép nối lại các chuyến bay thương mại quốc tế từ ngày 18/9/2020 đến một số quốc gia nhất định sau gần 6 tháng tạm dừng. Do đó, lượng khách quốc tế có thể bắt đầu tăng, nhưng sẽ không đáng kể vì các chuyến bay chưa được mở cho du lịch. Chúng tôi ước tính sẽ có khoảng 20.000 khách nhập cảnh hàng tháng trên các chuyến bay này. Những chuyến bay mới được giới thiệu chỉ dành cho công dân Việt Nam, người nước ngoài mang hộ chiếu ngoại giao và công vụ, chuyên gia, nhà quản lý, lao động tay nghề cao, nhà đầu tư và người nhà của họ. (Việt Nam yêu cầu cách ly tập trung 7 ngày đối với người nước ngoài khi các chuyến bay hoạt động trở lại, ngày 11/9/2020, VnExpress).

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Lưu ý và những giả định chính


Dự báo GDP dựa trên ước tính chung của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính GDP thực theo giá cố định năm 2010 bằng cách sử dụng phương pháp sản xuất, tức là tổng hợp giá trị gia tăng của các ngành).
Dự báo CPI dựa trên ước tính chung của chúng tôi (áp dụng mô hình dự báo ARIMA và ước tính thay đổi CPI từ các thành phần trong giỏ).

Các sự kiện kinh tế chính (T8-T12/2020) 

Các cổ phiếu HSC theo dõi phân tích 

Nguồn: HSC

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan