Báo cáo Vĩ mô tóm tắt – Cập nhật FDI: Việt Nam – ngôi sao sáng về thu hút FDI

FDI của Việt Nam chịu ảnh hưởng vừa phải bởi dịch Covid-19

Vốn FDI đăng ký 9 tháng đầu năm 2020 giảm do vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần giảm mạnh. Vốn đăng ký tăng thêm cho các dự án hiện hữu tăng 6,8% so với cùng kỳ trong khi vốn đăng ký mới và vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần lần lượt giảm 5,6% và 44,9% so với cùng kỳ. Sự sụt giảm này là do dịch Covid19 đã ảnh hưởng làm gián đoạn hoạt động đầu tư và ra quyết định, đặc biệt là trên các thị trường vốn.

Tiềm năng trong trung dài hạn

Việt Nam đang có những lợi thế đáng kể trong thu hút vốn đầu tư nước ngoài. Việt Nam được coi là quốc gia hưởng lợi nhiều nhất từ xu hướng rút vốn khỏi Trung Quốc nhờ có chi phí thấp và tham gia nhiều thỏa thuận thương mại (Trung Quốc cộng 1: Tìm hiểu sự hấp dẫn trong thu hút đầu tư của Việt Nam, Vietnam Briefing, ngày 13/4/2020).

Ngoài căng thẳng thương mại giữa Trung Quốc và Mỹ, sự xuất hiện của dịch Covid19 (lần đầu được phát hiện tại Vũ Hán – Trung Quốc) có vẻ đã đẩy nhanh làn sóng di dời ra khỏi Trung Quốc do các doanh nghiệp muốn tránh rủi ro tập trung hoạt động sản xuất vào một quốc gia.

Dự báo của HSC

Chúng tôi giữ nguyên dự báo vốn FDI giải ngân và đăng ký trong năm 2020 sẽ lần lượt giảm 4% và 8% do ảnh hưởng của dịch Covid-19. Tuy nhiên, năm 2021 triển vọng sẽ sáng sủa hơn với cả vốn FDI giải ngân và đăng ký sẽ tăng 8% – sát với mức tăng trưởng bình quân của 10 năm qua. Đến năm 2022, tốc độ tăng trưởng vốn FDI giải ngân và đăng ký sẽ tăng tốc, lần lượt tăng 10% và 12%.

Biểu đồ 1: Vốn FDI của Việt Nam – sự biến động theo tháng 

Triển vọng trung dài hạn nhiều hứa hẹn

Vốn FDI vào Việt Nam không chịu nhiều ảnh hưởng của dịch Covid-19

Vốn FDI giải ngân trong 9 tháng đầu năm 2020 giảm nhẹ và đã có sự cải thiện trong tháng 9. Trong khi đó, vốn FDI đăng ký 9 tháng đầu năm 2020 giảm do vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần giảm mạnh. Vốn đăng ký tăng thêm cho các dự án hiện hữu tăng 6,8% so với cùng kỳ trong khi vốn đăng ký mới và vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần lần lượt giảm 5,6% và 44,9% so với cùng kỳ. Sự sụt giảm này là do dịch Covid-19 đã làm gián đoạn hoạt động đầu tư và ra quyết định, đặc biệt là trên thị trường vốn.

Vốn FDI giải ngân trong 9 tháng đầu năm 2020 chỉ giảm nhẹ

Vốn FDI giải ngân đã cải thiện trong tháng 9. Vào tháng 9/2020, Việt Nam thu hút được 2,41 tỷ USD vốn FDI giải ngân, là con số lớn nhất kể từ đầu năm (Biểu đồ 1) và tăng 6,6% so với cùng kỳ trong khi tháng 8 giảm 12,8% so với cùng kỳ.

Vốn FDI giải ngân trong 9 tháng đầu năm 2020 chỉ giảm nhẹ. Trong 9 tháng đầu năm 2020, vốn FDI giải ngân của Việt Nam đạt 13,76 tỷ USD, giảm 3,2% so với cùng kỳ so với mức tăng 7,3% so với cùng kỳ trong 9 tháng đầu năm 2019 (Biểu đồ 2). Tuy nhiên, mức độ sụt giảm trong 9 tháng đầu năm 2020 ít hơn so với mức suy giảm 5,1% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2020.

So với các nước khác trong khu vực, Việt Nam là một trong những quốc gia ít chịu ảnh hưởng nhất từ dịch Covid-19. Cụ thể, vốn FDI của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm chỉ giảm nhẹ 6% so với cùng kỳ so với mức giảm 34% của khu vực ASEAN (Biểu đồ 3). Ngoài ra, vốn FDI toàn cầu trong Q1/2020 giảm 58% so với quý trước và dự kiến sẽ giảm 40% trong năm 2020 (xuống dưới mức 1 nghìn tỷ USD lần đầu tiên kể từ năm 2005). Điều này là do những bất ổn do dịch Covid-19 gây ra (Báo cáo Đầu tư Thế giới 2020 với tiêu đề Sản xuất quốc tế vượt qua đại dịch, UNCTAD, tháng 6/2020).

Biểu đồ 2: Vốn giải ngân 9T/2020 giảm so với cùng kỳ 

Báo cáo Vĩ mô tóm tắt – Cập nhật FDI: Việt Nam – ngôi sao sáng về thu hút FDI

Biểu đồ 3: FDI của Việt Nam giảm vừa phải trong 6T/2020 

Vốn FDI đăng ký giảm chủ yếu do vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần giảm mạnh

Vốn FDI đăng ký trong 9 tháng đầu năm 2020 giảm 18,9% so với cùng kỳ (còn 19,54 tỷ USD) so với mức tăng 3,1% trong 9 tháng đầu năm 2019. Mức giảm trong 9 tháng đầu năm 2020 rõ rệt hơn so với mức giảm 13,7% trong 8 tháng đầu năm 2020. Lý do chính là vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần giảm mạnh (Biểu đồ 4).

Vốn FDI thông qua góp vốn, mua cổ phần thấp. Vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần giảm đáng kể, giảm 44,9% so với cùng kỳ trong khi 9 tháng đầu năm 2019 tăng 82,3% (Biểu đồ 4 & 5).

Đáng chú ý là tỷ trọng vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần trong tổng vốn FDI đăng ký giảm đáng kể xuống còn 27% trong 9 tháng đầu năm 2020 từ 40% cùng kỳ năm trước. Rõ ràng là dịch Covid-19 nói chung đã làm gián đoạn hoạt động đầu tư, đặc biệt là hoạt động mua bán và sáp nhập. Bên cạnh ảnh hưởng tiêu cực của dịch Covid-19, một nhân tố khác có lẽ cũng đã ảnh hưởng là việc các doanh nghiệp chuyển việc làm và dự án về để hỗ trợ nền kinh tế của nước mình và xu hướng này diễn ra trên toàn cầu.

Quá trình cổ phần hóa tiến triển chậm cũng là một nguyên nhân. Quá trình cổ phần hóa tại Việt Nam diễn ra chậm nên đã hạn chế “nguồn hàng” cho các thương vụ M&A. Theo Bộ Tài chính, tính đến tháng 7/2020, Việt Nam mới chỉ hoàn thành được 28% kế hoạch cổ phần hóa đề ra cho giai đoạn 2016-2020. Cụ thể mới chỉ có 37 trong số 128 doanh nghiệp trong kế hoạch được cổ phần hóa. Quá trình cổ phần hóa vẫn diễn ra chậm chạp ở các khu vực như: Hà Nội, Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp, Bộ Công thương và Bộ Xây dựng.

Việc thực hiện các kế hoạch cổ phần hóa vẫn gặp nhiều khó khăn do quy mô doanh nghiệp lớn, chẳng hạn như Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Tập đoàn Hoá chất Việt Nam, Tập đoàn công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam, Tổng công ty Lương thực Miền Bắc, MobiFone và Agribank. Những doanh nghiệp này chưa được phê duyệt phương án sử dụng đất để tiến hành định giá doanh nghiệp. (Cổ phần hóa, thoái vốn vẫn chậm, SGGPnews, ngày 16/8/2020).

Nếu loại trừ vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần, tổng vốn FDI đăng ký chỉ giảm nhẹ. Trong 9 tháng đầu năm 2020, tổng vốn FDI đăng ký, gồm vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm cho các dự án hiện hữu (chiếm 73% tổng vốn FDI cam kết) giảm 1,8% so với cùng kỳ. Trong đó, vốn đăng ký mới giảm 5,6% so với cùng kỳ, trong khi vốn bổ sung vào các dự án hiện hữu tăng 6,8% so với cùng kỳ. (Bảng 4)


Tổng vốn đăng ký, không bao gồm vốn đầu tư thông qua góp vốn, mua cổ phần (giảm 1,8% so với cùng kỳ), cao hơn so với 9 tháng đầu năm 2019 và 9 tháng đầu năm 2018 (lần lượt giảm 19,9% so với cùng kỳ và giảm 7,7% so với cùng kỳ). Kết quả này là nhờ Việt Nam được hưởng lợi từ làn sóng di dời ra khỏi Trung Quốc và hiệu ứng tích cực từ các hiệp định FTA mà Việt Nam đã tham gia gần đây, đặc biệt là hiệp định Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA) ).
Tuy nhiên, tổng vốn đăng ký chủ yếu do đầu tư vào các dự án lớn đã được xin phép và đàm phán cách đây khá lâu, theo báo cáo hàng tháng của Cục Đầu tư nước ngoài (FIA, thuộc Bộ Kế hoạch và Đầu tư). Nếu không bao gồm dự án LNG vào tháng 1/2020, thì vốn FDI cam kết sẽ giảm 34% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, lưu ý rằng, đại dịch COVID-19 đã hạn chế việc đi lại của các NĐT cũng như khả năng đưa ra các quyết định đầu tư.

Biểu đồ 4: Vốn FDI đăng ký tính từ đầu năm so với cùng kỳ 

Biểu đồ 5: đầu tư, góp vốn mua cổ phần tăng mạnh trong năm 2019 

Cơ cấu vốn FDI cam kết trong 9 tháng đầu năm 2020

Dự án điện LNG tại Bạc Liêu đã được chấp thuận vào tháng 1/2020 và được đầu tư bởi một công ty Singapore với khoản đầu tư mới 4 tỷ USD. Riêng dự án này đã chiếm 19% tổng vốn FDI cam kết.

Một công ty Thái Lan rót thêm 1,4 tỷ USD vào Tổ hợp hóa dầu Long Sơn tại tỉnh Vũng Tàu đã được ghi nhận vào tháng 4/2020, đóng góp 6,6% vào tổng vốn FDI cam kết.

Cả 2 dự án FDI đều đầu tư vào ngành năng lượng, giúp cho vốn góp vào ngành này trong 9 tháng đầu năm 2020 tăng gấp 7,5 lần so với cùng kỳ.

Chi tiết theo ngành (Bảng 6), ngành sản xuất, chế biến và chế tạo dẫn đầu với 47% tổng vốn FDI cam kết. Tiếp theo là ngành năng lượng (tỷ trọng 21%), BĐS (tỷ trọng 15%) và bán buôn & bán lẻ (tỷ trọng 6%).

Theo đối tác đầu tư (Bảng 7), Singapore là NĐT lớn nhất của Việt Nam trong giai đoạn từ tháng 1 – tháng 9, với mức cam kết 6,77 tỷ USD, chiếm 32% tổng vốn. Hàn Quốc và Trung Quốc đứng thứ hai (đóng góp 15%) và thứ ba (đóng góp 9%), tiếp theo là Nhật Bản, Thái Lan và Đài Loan. Đáng chú ý, vốn đầu tư từ Thái Lan và Singapore tăng vọt lần lượt 165% và 79% so với cùng kỳ nhờ các dự án cụ thể nêu trên.

Phân chia theo tỉnh/thành, dự án LNG ở Bạc Liêu là dự án lớn nhất với vốn đầu tư 4 tỷ USD, và chiếm 19% tổng vốn đầu tư. TP.HCM và Hà Nội theo sau với lần lượt là 15% và 14%. Một số địa phương thu hút vốn FDI khác trong 9 tháng đầu năm 2020 là Vũng Tàu, Bình Dương, Hải Phòng và Bắc Ninh.

Biểu đồ 6: Vốn FDI 9T/2020 phân theo các ngành chính 

Biểu đồ 7: Vốn FDI đăng ký từ các đối tác chính trong 9T/2020 

Tiềm năng trong trung và dài hạn

Việt Nam có lợi thế về thu hút vốn đầu tư nước ngoài và được coi là nước hưởng lợi nhất từ xu hướng chuyển dịch đầu tư ra khỏi Trung Quốc, nhờ môi trường kinh doanh có chi phí thấp và nhiều hiệp định thương mại đã được ký kết. Trong khi đó, bên cạnh căng thẳng thương mại (giữa Trung Quốc và Mỹ) và sự xuất hiện của dịch COVID-19 (được ghi nhận đầu tiên ở Vũ Hán) dường như đã thúc đẩy các công ty giảm bớt rủi ro đầu tư tập trung tại một quốc gia.

Trước tình hình chi phí gia tăng ở Trung Quốc và căng thẳng thương mại với Mỹ, nhiều NĐT nước ngoài đã tìm cách mở rộng hoạt động bằng cách chuyển một số dây chuyển sản xuất sang các nước có chi phí thấp hơn, cụ thể là Việt Nam. Mức lương tối thiểu bình quân của Việt Nam là 160USD/tháng (chúng tôi tính mức lương tối thiểu bình quân của 4 vùng ở Việt Nam), và thấp hơn 6% so với Malaysia và Indonesia, thấp hơn 28% so với Thái Lan và 15% so với Campuchia. Trong khi đó, Việt Nam cũng có thuế suất thấp hơn so với các nước trong khu vực, với thuế suất thuế TNDN 20%, so với 24% của Malaysia, 25% của Indonesia và 30% của Philippines.

Chính phủ Việt Nam đã chủ động trong việc ký kết các hiệp định thương mại tự do (FTA) và hiện có 13 hiệp định thương mại tự do có hiệu lực và 3 hiệp định khác đang được đàm phán. 2 hiệp định FTA quan trọng gần đây, bao gồm CPTTP và EVFTA, không chỉ được kỳ vọng là động lực thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu mà còn là niềm hy vọng giúp tăng lợi thế khi thu hút đầu tư nước ngoài.

Các công ty công nghệ đang tìm kiếm cơ hội để di dời một phần chuỗi sản xuất sang Việt Nam. Samsung (Hàn Quốc) hiện là NĐT nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư 17,3 tỷ USD và có 6 nhà máy và 1 trung tâm nghiên cứu. Nhiều tập đoàn trên thế giới cũng tìm kiếm cơ hội xây dựng chuỗi sản xuất tại Việt Nam. (Bảng 7).

Bảng 8: Nhiều tập đoàn trên thế giới hướng đến xây dựng chuỗi sản xuất ở Việt Nam

HSC dự báo

Chúng tôi giữ nguyên dự báo vốn FDI giải ngân và vốn FDI cam kết năm 2020 lần lượt là giảm 4% và 8%. Chúng tôi dự báo tình hình sẽ tích cực hơn trong 2 năm tới, với tăng trưởng là 8% cho cả vốn FDI cam kết và FDI giải ngân năm 2021, và tăng trưởng lần lượt là 12% và 10% trong năm 2022.

Dự báo kinh tế vĩ mô của HSC 

Nguồn: HSC

Bình luận bài viết
Bài viết liên quan